Monday, August 22, 2016
Wednesday, August 10, 2016
Xét Nghiệm Lâm Sàng
1.Hóa sinh lâm sàng y HÀ NỘI
2. Kĩ thuật xét nghiệm vi sinh lâm sàng
3. Kĩ thuật XN huyết học & truyền máu ứng dụng trong lâm sàng
4. Xét nghiệm sử dụng trong lâm sàng
5. Các xét nghiệm thường quy áp dụng trong thực hành lâm sàng
6. SỔ TAY TRÍ NHỚ CẬN LÂM SÀNG
Thursday, July 28, 2016
Wednesday, July 27, 2016
NHỮNG DANH Y NỔI TIẾNG (PHẦN 8)
HOA ĐÀ (* 141 - 208 Danh y Trung Hoa)
Tên tự Nguyên Hóa, biệt danh Hoa Đà sinh ra thời Tam Quốc khoảng năm 141, người nước Bái (nay là tỉnh An Huy, Trung Quốc). Thông hiểu y thuật toàn diện, và cũng là y sĩ đầu tiên của thế giới biết về khoa gây mê phẫu thuật. Ông được tôn xưng là " ngoại khoa thánh thủ" . Thời niên thiếu Hoa Đà ham học, thông suốt Kinh, Thư và Dưỡng sinh. Khi thành tài được tiến cử làm quan, nhưng Hoa Đà chối từ về nhà học nghề thầy thuốc để chữa bệnh cứu đời. Những năm đầu ông đi tứ xứ hành nghề nay An Huy, mai ở Sơn Đông, Hà Nam, Giang Tô nên được dân chúng ái mộ.
Tên tự Nguyên Hóa, biệt danh Hoa Đà sinh ra thời Tam Quốc khoảng năm 141, người nước Bái (nay là tỉnh An Huy, Trung Quốc). Thông hiểu y thuật toàn diện, và cũng là y sĩ đầu tiên của thế giới biết về khoa gây mê phẫu thuật. Ông được tôn xưng là " ngoại khoa thánh thủ" . Thời niên thiếu Hoa Đà ham học, thông suốt Kinh, Thư và Dưỡng sinh. Khi thành tài được tiến cử làm quan, nhưng Hoa Đà chối từ về nhà học nghề thầy thuốc để chữa bệnh cứu đời. Những năm đầu ông đi tứ xứ hành nghề nay An Huy, mai ở Sơn Đông, Hà Nam, Giang Tô nên được dân chúng ái mộ.
Khi Tào Tháo bị bệnh nhức đầu kinh niên, bao nhiêu thái y chữa mãi vẫn không khỏi, Tào Tháo cho mời Hoa Đà đến chữa trị, ông dùng cách châm cứu mà trị cho Tào Tháo, chứng bệnh dứt ngay. Tào Tháo liền cử ông làm Thị Y (một chức quan trông nom sức khỏe cho riêng vua), nhưng ông cũng từ chối, Tào Tháo tức giận xuống lệnh giết ông.
Hoa Đà chết đi, nhưng người đời luôn nhớ đến ông, vì Hoa Đà tinh tường đủ các môn như châm cứu, phẫu thuật, phụ sản, tiểu nhi, nội ngoại khoa và cả ký sinh trùnh bệnh tật. Theo sử sách, Hoa Đà biết gây mê và làm phẫu thuật trước người Châu Âu đến 1.600 năm. Sử chép rằng, nếu về bệnh nội khoa sau khi bệnh nhân được cho uống thuốc mà không khỏi, ông dùng thủ thuật (giải phẫu) để trị. Cách làm, cho bệnh nhân dùng rượu có trộn bột ma phí tán (một loại trung dược dạng ma túy), khi người bệnh mất trí giác như người mê, ông mổ bụng thấy có bướu thì cắt bỏ, nếu ở dạ dày hay ruột cũng cắt bỏ nơi gây bệnh, xong rửa sạch vết mổ và khâu lại. Trên vết mổ ông đắp lên loại thuốc cao cho mau lành da. Sau khi hoàn tất Hoa Đà dùng châm cứu chích vào huyệt đạo cho bệnh nhân tỉnh dậy, và chỉ trong vòng một tháng bệnh nhân sẽ khỏi hẳn. Hoa Đà viết rất nhiều sách y học, nhưng rất tiết những sách của ông không được lưu truyền. Hiện nay có những sách mang tên: Trung tàng kinh, Hoa Đà thần y bí truyền, Ngô Phổ bản thảo, Lý Đang Chi dược lục... là do nghiên cứu học thuật của Hoa Đà mà thôi.
(Biên niên sử Việt Nam - Thế giới trước năm 2000)
NHỮNG DANH Y NỔI TIẾNG (PHẦN 7)
HẢI THUỢNG LÃNG ÔNG (1724 - 1791 Danh y Việt
Nam)
Ông tên thật là Lê Hữu Trác, danh y đời vua Lê Hiển Tông vào cuối thế kỷ thứ 18, sinh ngày 27/12/1724 tại thôn Liêu Xá huyện Đường Hào phủ Thượng Hồng tỉnh Hải Dương (nay là thôn Thanh Xá, huyện Yên Mỹ, Hải Dương), mất ngày 17/2/1791 tại Hương Sơn, Hà Tĩnh (đời Quang trung năm thứ 4). Tên hiệu Hải Thượng Lãng Ông, có nhiều người diễn giải là:
- Hải: có lẽ là tỉnh Hải Dương;
- Thượng: Là tên phủ Thượng Hồng;
- Lãn Ông: ông già lười.
Thuở nhỏ, ông theo cha lên Thăng Long theo học trường Quốc Tử Giám. Vì gia đình từ ông nội, chú bác đến cha ông đều làm quan to trong triều đại nhà Hậu Lê. Năm ông lên 15 tuổi đã thông minh, tạo văn chương thi phú. Ông thi đỗ Hương Cống nhưng lại theo phục vụ nhà chúa Trịnh Sâm (Thời Hậu Lê, đất nước vừa có vua vừa có chúa, chúa Trịnh ở đàng ngoài còn chúa Nguyễn ở đàng trong). Sau một thời gian ông chán cảnh phong kiến suy đồi nhà chúa Trịnh, cảnh mua quan tiến chức của triều đình nhà Lê. Nên khi nghe tin mẹ mất ông xin lui hẳn về quê.
Ông tên thật là Lê Hữu Trác, danh y đời vua Lê Hiển Tông vào cuối thế kỷ thứ 18, sinh ngày 27/12/1724 tại thôn Liêu Xá huyện Đường Hào phủ Thượng Hồng tỉnh Hải Dương (nay là thôn Thanh Xá, huyện Yên Mỹ, Hải Dương), mất ngày 17/2/1791 tại Hương Sơn, Hà Tĩnh (đời Quang trung năm thứ 4). Tên hiệu Hải Thượng Lãng Ông, có nhiều người diễn giải là:
- Hải: có lẽ là tỉnh Hải Dương;
- Thượng: Là tên phủ Thượng Hồng;
- Lãn Ông: ông già lười.
Thuở nhỏ, ông theo cha lên Thăng Long theo học trường Quốc Tử Giám. Vì gia đình từ ông nội, chú bác đến cha ông đều làm quan to trong triều đại nhà Hậu Lê. Năm ông lên 15 tuổi đã thông minh, tạo văn chương thi phú. Ông thi đỗ Hương Cống nhưng lại theo phục vụ nhà chúa Trịnh Sâm (Thời Hậu Lê, đất nước vừa có vua vừa có chúa, chúa Trịnh ở đàng ngoài còn chúa Nguyễn ở đàng trong). Sau một thời gian ông chán cảnh phong kiến suy đồi nhà chúa Trịnh, cảnh mua quan tiến chức của triều đình nhà Lê. Nên khi nghe tin mẹ mất ông xin lui hẳn về quê.
Ông về quê mẹ ở xã Tĩnh Diễm, huyện Hương Sơn tỉnh Hà Tĩnh học thêm nghề thuốc và trở thành bậc danh y với gần 30 năm lăn lộn với nghề. Từ đó ông lấy hiệu là Hải Thượng Lãn Ông. Hải Thượng Lãn Ông tinh thông các cách dùng thuốc Nam để trị bệnh, đã kế thừa 496 bài phú dùng thuốc của Tuệ Tĩnh đưa vào các bộ sách y dược như Lĩnh Nam bản thảo, Hành giản trân nhu, Bách gian trân tàng, Vệ sinh yếu huyệt.
Nhưng bộ sách quý là Y Tông Tâm Lĩnh của ông được biên soạn trong 40 năm mới hoàn thành, gồm 28 tập chia thành 66 quyển được coi là tiêu biểu cho sự nghiệp lương y của Hải Thượng Lãn Ông (sau này được in lại dưới tên Tân Huệ Hải Thượng Y Tâm Lĩnh Dương An Toàn Trạch vào năm 1866). Ngoài ra, về sáng tác văn học, Hải Thượng Lãn Ông có tập Thượng Kinh Ký Sự nói về cuộc hành trình ra Thăng Long của ông để chữa bệnh cho chúa Trịnh Sâm.
Người đời sau đánh giá công lao của Hải Thượng Lãn Ông không kém một Lý Thời Trân của Trung Quốc - một nhà y học thời Minh Triều (1518 - 1593) có bộ sách y dược đồ sộ là Bản thảo cương mục - nổi tiếng khắp thế giới (lời của học giả Trương Tú Dân, khi giới thiệu quyển Hải Thượng Y Tông Tâm Lĩnh, Bắc Kinh đồ thư quán ấn hành năm 1963).
(Biên niên sử Việt Nam - Thế giới trước năm 2000)
NHỮNG DANH Y NỔI TIẾNG (PHẦN 6)
A. FLEMING (1881
- 1955): Tìm ra chất kháng
sinh
Alexander Fleming nhà vi sinh và hóa sinh người Scotland, sinh trưởng tại Darvel, Ayrshire năm 1881 và chết vào năm 1955 tại London. A.Fleming tốt nghiệp trường Y khoa thuộc Đại học London năm 1906, sau đó ông làm việc tại phòng thí nghiệm vi sinh vật thuộc bệnh viện Saint Mary vào năm 1908 đến 1947.
Alexander Fleming nhà vi sinh và hóa sinh người Scotland, sinh trưởng tại Darvel, Ayrshire năm 1881 và chết vào năm 1955 tại London. A.Fleming tốt nghiệp trường Y khoa thuộc Đại học London năm 1906, sau đó ông làm việc tại phòng thí nghiệm vi sinh vật thuộc bệnh viện Saint Mary vào năm 1908 đến 1947.
Từ năm 1947, A.Fleming trở thành giám đốc bệnh viện và xây dựng hoàn chỉnh phòng thí nghiệm của bệnh viện, để có phương tiện nghiên cứu;
Năm 1928 ông là giảng sư môn vi sinh của Đại học Tổng hợp London;
Trong những năm từ 1951 đến 1954, ông là giám đốc Đại học Tổng hợp Edinbuegh.
Các nghiên cứu của A.Fleming chủ yếu liên quan đến các loại vi khuẩn và hóa học trị liệu, các chất miễn dịch học. Ông nghiên cứu chất opsonin có đặc tính diệt trùng, sulfanylamid và kháng sinh. Do vào năm 1928, A.Fleming lúc làm việc tại phòng thí nghiệm, nhận thấy có một đám meo nổi lên trong đĩa thí nghiệm vi khuẩn còn sống của mình. Số vi khuẩn nằm gần đám meo thì chết còn ở phía xa vẫn sống, ông nhận thấy chính đám meo đã giết được các con vi khuẩn, nên ông đặt cho đám meo cái tên Penicillium Notatum (chất kháng sinh).
Sau khi tìm ra chất Penecillium Notatum, A.Fleming chứng minh rằng chất Péniciline có thể giết chết được vi khuẩn gây ra những bệnh tật, nhưng chưa bào chế ra loại thuộc đặc trị. Vì vậy công trình của ông ít được lưu tâm, cho đến năm 1941 khi Howard Florey (người Uúc) và Ernst Chain (người Đức) cùng các nhà khoa học khác tại Đại học Oxford tìm và bào chế đủ các chất kháng sinh Péniciline chống lại các bệnh truyền nhiễm nguy hiểm.
Năm 1945, A.Fleming nhận giải Nobel cùng Howard Florey và Ernst Chain, về công trạng tìm ra và bào chế thành công chất kháng sinh Péniciline cho nhân loại.
(Biên niên sử Việt Nam - Thế giới trước năm 2000)
Tuesday, July 26, 2016
NHỮNG DANH Y NỔI TIẾNG (PHẦN 5)
KOCH (1843 - 1910): Người tìm ra vi trùng lao phổi
Robert Koch nhà vi sinh học người Đức, sinh ăm 1843 tại Hanover và chết vào năm 1910 tại Baden. Robert Koch tốt nghiệp Y khoa tại trường Đại học Tổng hợp Gottingen vào năm 1866, trong thời gian còn theo học, ông thường nghe các giáo sư cho rằng, bệnh tật của con người do những con vi sinh vật mà mắt thường không thể nhìn thấy được gây ra. Vì thế sau khi ra trường Robert Koch đã dành hết thời gian để nghiên cứu loài vi sinh vật này.
Robert Koch nhà vi sinh học người Đức, sinh ăm 1843 tại Hanover và chết vào năm 1910 tại Baden. Robert Koch tốt nghiệp Y khoa tại trường Đại học Tổng hợp Gottingen vào năm 1866, trong thời gian còn theo học, ông thường nghe các giáo sư cho rằng, bệnh tật của con người do những con vi sinh vật mà mắt thường không thể nhìn thấy được gây ra. Vì thế sau khi ra trường Robert Koch đã dành hết thời gian để nghiên cứu loài vi sinh vật này.
Từ năm 1872 đến 1880, Robert Koch làm bác sĩ tại Wollstein và lập ở đây một phòng thí nghiệm để nghiên cứu vi sinh vật;
Từ năm 1885 đến 1891, là giảng sư tại trường Đại học tổng hợp Berlin và làm giám đốc Viện Vệ sinh;
Năm 1891 đến 1904 ông là Giám đốc Viện các bệnh truyền nhiễm Berlin do ông sáng lập;
Robert Koch là Viện sĩ danh dự của Viện Hàn Lâm Khoa học Peterburg vào năm 1884 và hội viên Hội Hoàng Gia London năm 1897. Nhận giải Nobel về sinh lý và y học năm 1905.
Sự nghiệp của Robert Koch được nhân loại nhớ đến là tìm ra vi trùng Koch (lất tên ông đặt tên cho con vi sinh vật này) của bệnh lao phổi vào năm 1882, nhờ vậy mà về sau người ta chế được thuốc ngăn ngừa và điều trị lao phổi. Robert Koch còn tìm ra các vi khuẩn gây nên bệnh dịch tả, dịch hạch bệnh than gây ra từ gia súc... Năm 1889 ông cùng một bác sĩ người Nhật Kitasato tách được vi khuẩn gây bệnh bạch hầu. Năm 1905 Robert Koch làm sáng tỏ thêm về quá tình phát bệnh lao và đề ra phương pháp điều trị, trong đó có phương pháp nuôi cấy vi khuẩn trong dịch lỏng và trên môi trường rắn, và phương pháp chụp vi ảnh.
(Biên niên sử Việt Nam - Thế giới trước năm 2000)
Monday, July 25, 2016
NHỮNG DANH Y NỔI TIẾNG (PHẦN 4)
PASTEUR (1822 - 1895): Khám phá các vi trùng gây bệnh
Louis Pasteur nhà vi sinh học và hóa học người Pháp, sinh năm 1822 tại Dôle và chết năm 1895 tại Villeneuve L' Eétang. Louis Pasteur tốt nghiệp trường sư phạm Paris năm 1874, hồi nhỏ ông học không thuộc loại giỏi vì chủ yếu ông mê ngành hội họa hơn, nhưng sau khi tốt nghiệp ông thay đổi sự đam mê từ hội họa qua ngành nghiên cứu hóa học. Chính vì say mê môn hóa sinh, nên ông rất chăm chỉ học tập và khi 20 tuổi ông đã nổi tiếng nhờ những thí nghiệm của mình.
Louis Pasteur nhà vi sinh học và hóa học người Pháp, sinh năm 1822 tại Dôle và chết năm 1895 tại Villeneuve L' Eétang. Louis Pasteur tốt nghiệp trường sư phạm Paris năm 1874, hồi nhỏ ông học không thuộc loại giỏi vì chủ yếu ông mê ngành hội họa hơn, nhưng sau khi tốt nghiệp ông thay đổi sự đam mê từ hội họa qua ngành nghiên cứu hóa học. Chính vì say mê môn hóa sinh, nên ông rất chăm chỉ học tập và khi 20 tuổi ông đã nổi tiếng nhờ những thí nghiệm của mình.
Năm 1836, Louis Pasteur được mời giúp việc cho ngành kỹ nghệ nấu rượu nho của Pháp (vì rượu nho do Pháp sản xuất thời kỳ này thường bị chua), Pasteur chứng minh rằng, sở dĩ rượu bị chua là do loại vi khuẩn nấm tạo men gây ra, để chấm dứt các vi sinh này gây ra trong rượu cần phải giết chúng bằng hơi nóng. Phương pháp " sấy khô" hay làm nóng rượu đã thành công, và rượu nho của Pháp trở nên nổi tiếng khắp thế giới. Hiện nay với phương pháp này người ta sản xuất nhiều thức uống nguyên chất tiệt trùng.
Từ năm 1849 đến năm 1867 Pasteur là giáo sư của các trường trung và đại học tại Strasbourg, Litle rồi về Đại học tổng hợp Paris.
Năm 1888 là giám đốc Viện nghiên cứu vi sinh vật do ông lập ra (sau này được gọi là Viện Pasteur Paris).
Hoạt động của Louis Pasteur là nghiên cứu về vi sinh vật, miễn dịch học, sinh hóa và hóa lập thể. Dựa vào quá tình lên men, thối rữa và bệnh học một số bệnh truyền nhiễm của người và động vật. Tìm hiểu được nguồn gốc gây bệnh, ông đưa ra phương pháp chích ngừa các bệnh đó:
Năm 1865, Pasteur vạch ra phương pháp vô trùng các loại thực phẩm sống;
Năm 1872, đưa ra khái niệm về sinh vật yếm khí;
Năm 1875, ông chứng minh được quá trình lên men thối rữa là quá trình sinh học xảy ra dưới tác dụng men của các vi sinh;
Năm 1881, ông đã tách ra được các tác nhân gây bệnh lở loét;
Năm 1885 chế ra loại vắcxin phòng ngựa bệnh dại do động vật gây ra (chúng ta chủ yếu dùng khi bị chó cắn) và chích thí nghiệm cho con người bị chó dại cắn, ông đã thành công.
Những công trình nghiên cứu và sáng tạo của Louis Pasteur đã được Viện Hàn Lâm Paris mời vào làm viện sĩ từ năm 1862, vào Viện Hàm Lâm Y Học năm 1873. Ông còn là viện sĩ danh dự của Viện Hàn Lâm Khoa học Peterbourg và nhiều Viện Hàn Lâm khác. Đã có thời gian Pasteur qua Đông Dương và ở tại Việt Nam nghiên cứu các đề tài của mình.
(Biên niên sử Việt Nam - Thế giới trước năm 2000)
NHỮNG DANH Y NỔI TIẾNG (PHẦN 2)
TUỆ TĨNH (Danh y Việt Nam) Dùng thuốc nam chữa
bệnh
Danh y Việt Nam, người mở đầu cho nền Y học Cổ truyền Dân tộc. Ông tên thật là Nguyễn Bá Tĩnh, là người theo Phật Giáo đi tu và có pháp hiệu là Tuệ Tĩnh (còn được gọi là Huệ Tĩnh) sinh tại Nghĩa Lư huyện Dạ Cẩm, Hồng châu (nay là thôn Nghĩa Phú, xã Cẩm Vũ, huyện Cẩm Giàng, tỉnh Hải Dương). Về năm sinh của ông, các sách vở lưu lại chỉ nói vào thời vua Trần Dụ Tông (thế kỷ 14, tức khoảng năm 1330) vì Tuệ Tĩnh vốn là con nhà nông ở nông thôn, nên việc ghi nhớ ngày tháng năm sinh rất khó khăn. Ngày mất không ai rõ, nhưng nơi mất là Giang Nam, Trung Quốc.
Danh y Việt Nam, người mở đầu cho nền Y học Cổ truyền Dân tộc. Ông tên thật là Nguyễn Bá Tĩnh, là người theo Phật Giáo đi tu và có pháp hiệu là Tuệ Tĩnh (còn được gọi là Huệ Tĩnh) sinh tại Nghĩa Lư huyện Dạ Cẩm, Hồng châu (nay là thôn Nghĩa Phú, xã Cẩm Vũ, huyện Cẩm Giàng, tỉnh Hải Dương). Về năm sinh của ông, các sách vở lưu lại chỉ nói vào thời vua Trần Dụ Tông (thế kỷ 14, tức khoảng năm 1330) vì Tuệ Tĩnh vốn là con nhà nông ở nông thôn, nên việc ghi nhớ ngày tháng năm sinh rất khó khăn. Ngày mất không ai rõ, nhưng nơi mất là Giang Nam, Trung Quốc.
Lúc lên 6 thì cha mẹ đều mất, vì mồ côi nên ông được một hòa thượng chùa Hải Triều ở Yên Trang (sau này gọi là chùa Nguyêm Quang tức chùa Giám xã Tân Sơn huyện Cẩm Bình) đem về nuôi dạy;
Năm lên 10, ông được sư cụ chùa Giao Thủy ở Sơn Nam (Nam Định) đưa về cho học với các nhà sư trong chùa Dũng Nhuệ. Ơở chùa này ông có pháp danh là Tiểu Huệ biệt danh là Huệ Tĩnh. Ông được chùa cho học chữ và học nghề thuốc để giúp việc chữa bệnh cho dân nghèo trong xã huyện;
Năm lên 22 tuổi, Tuệ Tĩnh đi thi Hương và đỗ nhất bảng, nhưng ông không ra làm quan mà vẫn ở lại chùa tiếp tục việc chữa bệnh, lấy pháp hiệu Tuệ Tĩnh từ đó;
Năm 30 tuổi, Tuệ Tĩnh về lại chùa Yên Trang làm sư trụ trì, tu bổ lại chùa và nhiều chùa khác trong huyện;
Năm 45 tuổi, Tuệ Tĩnh thi Đình đỗ Hoàng Giáp;
Năm 55 tuổi, ông bị bắt đi sứ sang Trung Quốc, được Minh triều giữ lại làm việc ở Viện Thái Y rồi mất tại tỉnh Giang Nam (không rõ tại huyện xã nào tại tỉnh này).
Về sự nghiệp Y học của Tuệ Tĩnh, ông đã soạn các sách Dược tính chỉ nam và Thập tam phương gia giảm những bản nguyên tác của ông nay không còn trọn vẹn, do vào cuối thế kỷ 14 quân Minh sang xâm chiếm nước ta, chúng đã phá hủy nhiều thư tịch lớn, những bản hiện nay do người đời sau ghi chép lại qua truyền khẩu dân gian, hiện có các bản:
Nam dược thần hiệu, do Hòa thượng Bản Lai chùa Hồng Phúc (Hòe Nhai, Hàng Than, Hà Nội) biên tập, bổ sung vào năm 1761;
Nam dược chính bản, do triều đình Lê Dụ Tông biên tập (sau đổi tên sách là Hồng Nghĩa giác tư y thư) in vào năm 1717 gồm quyển thượng và quyển hạ. Quyển thượng: Nam dược Quốc ngữ phú gồm 590 tên vị thuốc nam. Và Trực giải chỉ nam dược tính phú gồm đặc tính của 220 vị thuốc nam. Quyển hạ: Y luận, là sách viết về các lý luận từ âm dương ngũ hành sinh hóa vào con người trong tiết khí 4 mùa, sự ảnh hưởng và bệnh tật, cách điều trị lâm sàng;
Thập tam phương gia giảm, phụ Bố âm đơn và Dược tính phú bằng chữ Hán. Là dách hướng dẫn gia, giảm khi dùng thuộc chữa bệnh.
Tuệ Tĩnh xây dựng nền móng của Y học dân tộc bằng cách chữa bệnh bằng thuốc Nam, gầy dựng phong trào trồng cây thuốc trong gia đình để tự chữa bệnh trong nhất thời và cũng tạo trang viên có cây cảnh đẹp mắt (nhờ vậy năm 1533 với cây thuốc sẵn có mà dân chúng thoát khỏi bệnh sốt rét hoành hành, hay dịch tả tại Thái Nguyên năm 1574).
(Biên niên sử Việt Nam - Thế giới trước năm 2000)
Thursday, July 21, 2016
NHỮNG DANH Y NỔI TIẾNG (PHẦN 1)
HYPPOCRATES (# 460 - 377 trCN): Ông tổ ngành Y khoa
Sinh tại đảo Cos vào khoảng năm 460 trCN và mất vào khoảng năm 377 trCN, là người Hy Lạp, trong triều đại đế quốc Hy Lạp cổ đang hùng mạnh và phồn vinh nhất, thời kỳ mà nền văn minh loài người được đánh giá đang phát triển toàn diện, sản sinh nhiều bậc vĩ nhân mà bây giờ và mãi mãi, chúng ta hằng tôn vinh công lao của họ. Hippocrates là một trong số những người đó.
Ông là thầy thuốc và là nhà y học lớn nhất của nhân loại, được công nhận là ông tổ của ngành Y khoa hiện nay. Hippocrates xuất thân từ một gia đình nhiều đời làm nghề thầy thuốc, nhưng ông chọn nghề dạy học và đi khắp đế quốc của mình nghiên cứu về cách chữa bệnh của các bộ tộc ở đông tây vùng Địa Trung Hải. Sau đó ông về hành nghề y, ông chủ trương dùng thuốc trị bệnh thay vì tế lễ khẩn cầu thần linh và dùng những loại dược thảo không tinh khiết của các thầy thuốc cho dùng.
Những công trình nghiên cứu của ông được công bố trong quyển Hippocrates toàn tập (gồm gần 70 cuốn, nhưng các nhà nghiên cứu y học ngày nay cho rằng, cuốn sách quý này không do chính tay Hippocrates viết, mà những thế kỷ về sau các thầy thuốc đã tổng hợp các công trình nghiên cứu của ông và có bổ sung thêm kiến thức), nhưng các cuốn sau đây được sự chú ý nhiều như cuốn thứ nhất viết về các bệnh dịch, cuối thứ ba về cách đoán bệnh. Những cuốn sau nói về các chứng bệnh nan y, những lời khuyên và cách trị liệu, ông cũng viết về giải phẫu học (như ghép xương gãy lại thành ngay).
Trong quyển Hippocrates toàn tập, ông còn mô tả những căn bệnh hiểm nghèo do ung thư biến chứng. Sau này, Galen (thế kỷ thứ 2 sau CN) phát triển và phổ biến lý thuyết Y học của Hippocrates theo chiều hướng tích cực nhất, và đề nghị các tiêu chuẩn đạo đức của người hành nghề thầy thuốc bằng lời thề Hippocrates, mà ngày nay các bác sĩ trước khi nhận bằng cấp ra trường cứu đời phải thề trước ông tổ Y học Hippocrates của mình.
Bác sĩ và nhà tự nhiên học thuộc triều đại của đế quốc La Mã cổ
Nguyên tên là Claudius Galenus, sinh khoảng năm 130 và chết vào khoảng năm 200. Galen sinh tại thành phố Pergamum của Hy Lạp và học nghề Y tạo Chypre và vùng Palestine, thành đạt tại Roma. Trong thời đại của ông, Hy Lạp đã bị đế quốc La Mã thôn tính. Nên ông trở thành bác sĩ săn sóc cho các dũng sĩ giác đấu Spartacus, nhờ vậy ông có thời gian nghiên cứu về cơ thể con người và tìm cách chữa trị.
Galen sau trở thành bác sĩ riêng cho các hoàng đế La Mã, và ông được nổi tiếng trên đoàn cõi đế quốc, từ đó ông trở thành tác giả của hơn 400 công trình khoa học (hiện nay chúng ta tìm được mới hơn 100 tác phẩm, viết bằng tiếng Syria hay Arab) trong các tác phẩm của ông, có các nghiên cứu về dịch bệnh, chẩn đoán và dùng thuốc, những công tình của Galen như thuyết minh về các đề tài mà Hippocrates từng nghiên cứu vào thế kỷ thứ 4 trCN.
Galen cũng hô hào soạn thảo điều lệ về đạo đức cho người thầy thuốc, mà yếu tố tiên quyết là cứu người bệnh tích cực nhất không để tiền bạc chi phối tri thức của một lương y. Điều lệ này sau trở thành Lời thề trước Hippocrates.
(Biên niên sử Việt Nam - Thế giới trước năm 2000)
Sinh tại đảo Cos vào khoảng năm 460 trCN và mất vào khoảng năm 377 trCN, là người Hy Lạp, trong triều đại đế quốc Hy Lạp cổ đang hùng mạnh và phồn vinh nhất, thời kỳ mà nền văn minh loài người được đánh giá đang phát triển toàn diện, sản sinh nhiều bậc vĩ nhân mà bây giờ và mãi mãi, chúng ta hằng tôn vinh công lao của họ. Hippocrates là một trong số những người đó.
Ông là thầy thuốc và là nhà y học lớn nhất của nhân loại, được công nhận là ông tổ của ngành Y khoa hiện nay. Hippocrates xuất thân từ một gia đình nhiều đời làm nghề thầy thuốc, nhưng ông chọn nghề dạy học và đi khắp đế quốc của mình nghiên cứu về cách chữa bệnh của các bộ tộc ở đông tây vùng Địa Trung Hải. Sau đó ông về hành nghề y, ông chủ trương dùng thuốc trị bệnh thay vì tế lễ khẩn cầu thần linh và dùng những loại dược thảo không tinh khiết của các thầy thuốc cho dùng.
Những công trình nghiên cứu của ông được công bố trong quyển Hippocrates toàn tập (gồm gần 70 cuốn, nhưng các nhà nghiên cứu y học ngày nay cho rằng, cuốn sách quý này không do chính tay Hippocrates viết, mà những thế kỷ về sau các thầy thuốc đã tổng hợp các công trình nghiên cứu của ông và có bổ sung thêm kiến thức), nhưng các cuốn sau đây được sự chú ý nhiều như cuốn thứ nhất viết về các bệnh dịch, cuối thứ ba về cách đoán bệnh. Những cuốn sau nói về các chứng bệnh nan y, những lời khuyên và cách trị liệu, ông cũng viết về giải phẫu học (như ghép xương gãy lại thành ngay).
Trong quyển Hippocrates toàn tập, ông còn mô tả những căn bệnh hiểm nghèo do ung thư biến chứng. Sau này, Galen (thế kỷ thứ 2 sau CN) phát triển và phổ biến lý thuyết Y học của Hippocrates theo chiều hướng tích cực nhất, và đề nghị các tiêu chuẩn đạo đức của người hành nghề thầy thuốc bằng lời thề Hippocrates, mà ngày nay các bác sĩ trước khi nhận bằng cấp ra trường cứu đời phải thề trước ông tổ Y học Hippocrates của mình.
Bác sĩ và nhà tự nhiên học thuộc triều đại của đế quốc La Mã cổ
Nguyên tên là Claudius Galenus, sinh khoảng năm 130 và chết vào khoảng năm 200. Galen sinh tại thành phố Pergamum của Hy Lạp và học nghề Y tạo Chypre và vùng Palestine, thành đạt tại Roma. Trong thời đại của ông, Hy Lạp đã bị đế quốc La Mã thôn tính. Nên ông trở thành bác sĩ săn sóc cho các dũng sĩ giác đấu Spartacus, nhờ vậy ông có thời gian nghiên cứu về cơ thể con người và tìm cách chữa trị.
Galen sau trở thành bác sĩ riêng cho các hoàng đế La Mã, và ông được nổi tiếng trên đoàn cõi đế quốc, từ đó ông trở thành tác giả của hơn 400 công trình khoa học (hiện nay chúng ta tìm được mới hơn 100 tác phẩm, viết bằng tiếng Syria hay Arab) trong các tác phẩm của ông, có các nghiên cứu về dịch bệnh, chẩn đoán và dùng thuốc, những công tình của Galen như thuyết minh về các đề tài mà Hippocrates từng nghiên cứu vào thế kỷ thứ 4 trCN.
Galen cũng hô hào soạn thảo điều lệ về đạo đức cho người thầy thuốc, mà yếu tố tiên quyết là cứu người bệnh tích cực nhất không để tiền bạc chi phối tri thức của một lương y. Điều lệ này sau trở thành Lời thề trước Hippocrates.
(Biên niên sử Việt Nam - Thế giới trước năm 2000)
Tuesday, July 19, 2016
Tài liệu học tiếng Anh
1. TỔNG HỢP EBOOK TIẾNG ANH CHUYÊN NGHÀNH Y HỌC
2. Medical Terminology for heath professtion ( Thuật ngữ Y học)
3. Quick Medical Terminology
4. Ôn tập ngữ pháp tiếng Anh
5. MEDIC27 ( Phần mềm dịch thuật ngữ Y học)
6. English_In_Medicine_3rd_ed (Cambridge)
7. Check your english vocabulary for medicine
8. CHUYỂN ĐỔI TỪ LOẠI
9. 3000 từ phiên âm và giải nghĩa
10. TỰ HỌC TIẾNG ANH QUA 95 CÁCH GIAO TIẾP
11. TỪ VỰNG TIẾNG ANH THEO CHỦ ĐỀ
12. TÀI LIỆU THI TOEFL
12. BỐN LOẠI CÂU ĐIỀU KIỆN
Subscribe to:
Posts (Atom)















