Saturday, June 13, 2020

Hoại thư Fournier

Hoại thư Fournier là một bệnh viêm cân hoại tử vùng đáy chậu và bộ phận sinh dục, tiến triển rất nhanh, đe dọa tính mạng, do nhiều loại vi khuẩn gây ra: ái khí, kỵ khí, gram âm và gram dương. Bệnh thường xảy ra ở các bệnh nhân có bệnh nền gây tổn thương mạch máu và hệ miễn dịch nên rất dễ bị nhiễm khuẩn đa vi khuẩn. Chẩn đoán bệnh chủ yếu dựa vào thăm khám lâm sàng. Cắt lọc sớm mô hoại tử và kháng sinh phổ rộng liều cao kết hợp với hồi sức tích cực là những điểm cơ bản trong điều trị bệnh lý này. Dẫu đã có nhiều tiến bộ trong điều trị nhưng tỷ lệ tử vong vẫn còn cao, trung bình từ 20-30%  [1], [5].
I. Định nghĩa
          Hoại thư Fournier là bệnh viêm cân hoại tử vùng đáy chậu và bộ phận sinh dục do nhiều loại vi khuẩn phối hợp gây ra. Nó có thể tiến triển thành nhiễm khuẩn mô mềm bùng phát mà lan tràn rất nhanh dọc theo các bình diện cân, gây hoại tử da, tổ chức dưới da và cân, cùng với nhiễm khuẩn toàn thân.
          Bệnh thường gặp ở những người đàn ông lớn tuổi (50-60 tuổi).Tỷ lệ mắc bệnh là 1,6/100 000 [3]. [5]. Bệnh được gọi theo tên một bác sỹ da liễu người Pháp (Jean Alfred Fournier) vì vào năm 1883 ông này đã báo cáo 5 trường hợp hoại tử bộ phận sinh dục mà không có nguyên nhân rõ ràng mà ngày nay chúng ta biết đến với cái tên " Hoại thư Fournier" [1]. [2]. [3]. [4]. [5]. [6].

II. Bệnh nguyên

          Nhiễm khuẩn có thể bắt nguồn từ đường niệu dục, hậu môn trực tràng, da hay khoang sau phúc mạc. Vùng niệu dục là vùng xuất phát nhiễm khuẩn hay gặp nhất mà đứng đầu là bệnh lý hẹp niệu đạo.
          Các nguyên nhân của hoại thư Fournier bao gồm:
+ Nguyên nhân từ đường niệu dục: hẹp niệu đạo, đặt thông tiểu, sỏi niệu đạo, viêm niệu đạo, phẫu thuật niệu đạo, nhiễm trùng tuyến quanh niệu đạo hay áp xe quanh niệu đạo, lao niệu dục, ung thư niệu đạo, sinh thiết tuyến tiền liệt hay xoa bóp tuyến tiền liệt
Nguyên nhân từ hậu môn trực tràng: áp xe cạnh hậu môn, sinh thiết niêm mạc trực tràng, nong hậu môn, ung thư trực tràng hay đại tràng xích ma, viêm túi thừa đại tràng, thủng trực tràng do dị vật, viêm đại tràng hoại tử, hẹp hậu môn.
Nguyên nhân từ da: mụn trứng cá, viêm nang lông, đau nhức bìu, nhiễm trùng vết mổ sau phẫu thuật bìu, viêm mô tế bào vùng bìu, tiêm tĩnh mạch đùi
Nguyên nhân từ sau phúc mạc: áp xe cơ đái chậu, áp xe quanh thận, viêm tụy cấp với hoại tử mỡ sau phúc mạc
Nguyên nhân từ sang chấn do điều trị: đốt mụn cóc vùng sinh dục, cắt bao quy đầu, động vật hay côn trùng cắn, dái nước nhiễm khuẩn, áp xe bìu....
          Mặc dù hoại thư Fournier thường xảy ra ở nam giới cao tuổi nhưng nó cũng có thể xảy ra ở bất cứ lứa tuổi nào và khoảng 10% xảy ra ở phụ nữ  [4], [5]. Các nguyên nhân của hoại thư Fournier đặc trưng ở nữ giới bao gồm: cắt tầng sinh môn khi sinh, nạo phá thai nhiễm khuẩn, cắt tử cung, áp xe âm hộ hay tuyến Bartolin ..
Khả năng xuất hiện nguy cơ hoại thư Fournier khi sử dụng các thuốc ức chế SGLT2.
NHRA (Cơ quan Quản lý Thuốc và các Sản phẩm Chăm sóc Sức khỏe Anh quốc): Cảnh báo về nguy cơ hoại thư Fournier (viêm mô hoại tử ở bộ phận sinh dục hoặc vùng đáy chậu) liên quan đến thuốc ức chế SGLT2
    Thuốc ức chế SGLT2 được chỉ định để điều trị ĐTĐ typ 2. Các thuốc được dùng ở Anh gồm dapagliflozin, canagliflozin, empagliflozin và ertugliflozin.
    Một bản đánh giá của EU đã xem xét các trường hợp hoại thư Fournier trên các báo cáo về nhóm thuốc ức chế SGLT2. Một số báo cáo của EU về bệnh này cho rằng nguyên nhân xuất hiện hội chứng có thể liên quan đến việc sử dụng chất ức chế SGLT2. Chứng hoại thư Fournier xảy ra hầu hết ở nam giới. Tuy nhiên, 1/3 các trường hợp đã báo cáo là ở phụ nữ.     Ngoài ra, những bệnh nhân sử dụng chất ức chế SGLT2 ở Mỹ cũng có nguy cơ xuất hiện chứng bệnh này nhưng rất hiếm gặp.
    MHRA quyết định cảnh báo về chứng hoại thư Fournier sẽ được thêm vào thông tin sản phẩm của các thuốc ức chế SGLT2. Các thông tin này cũng đã được thông báo rộng rãi tới cán bộ y tế.
    Bệnh nhân đang sử dụng thuốc ức chế SGLT2 cần được điều trị khẩn cấp nếu cảm thấy đau nhiều, đau dữ dội, đau nhẹ, ban đỏ hoặc sưng ở vùng sinh dục hoặc vùng đáy chậu kèm theo sốt hoặc khó chịu. Nếu nghi ngờ mắc chứng hoại thư Fournier, cần ngưng sử dụng chất ức chế SGLT2 và bắt đầu điều trị khẩn cấp (dùng kháng sinh và phẫu thuật mở ổ viêm) một cách phù hợp.

Wednesday, April 15, 2020

Hướng dẫn nội dung và hình thức luận văn y học

1. Nội dung luận văn
Luận văn có độ dầy tối thiểu:
+ 60 trang đối với thạc sĩ, bác sĩ nội trú
+ 70 trang đối với chuyên khoa cấp II

Gồm những phần và chương sau:
- ĐẶT VẤN ĐỀ (2 trang): trình bày lý do chọn đề tài, mục tiêu và phạm vi nghiên cứu, ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài nghiên cứu.
- Chương 1: TỔNG QUAN TÀI LIỆU (chiếm khoảng 1/4 chiều dài luận văn):
+ Giới thiệu chung về vấn đề nghiên cứu
+ Phân tích, đánh giá các công trình nghiên cứu đã có của các tác giả trong và ngoài nước liên quan mật thiết đến đề tài nghiên cứu; nêu những vấn đề còn tồn tại; chỉ ra những vấn đề mà luận văn cần tập trung nghiên cứu giải quyết.
- Chương 2: ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU (chiếm khoảng 1/6 - 1/5 chiều dài luận văn) bao gồm:

Friday, March 13, 2020

Nhồi máu mạc nối lớn nguyên phát - Idiopathic omental infarction (IOI )


Nhồi máu mạc nối lớn nguyên phát - Idiopathic omental infarction (IOI
Đặt vấn đề
Nhồi máu mạc nối lớn nguyên phát (IOI) là một nguyên nhân hiếm gặptrong các nguyên nhân gây đau bụng bên phải,  bệnh cảnh tương tự như các triệu chứng phổ biến của cả viêm ruột thừa cấp và viêm túi mật cấp, tỉ lệ gặp <4 trong 1000 trường hợp được chẩn đoán viêm ruột thừa cấp [1]. Nhờ sợ phát triển của chẩn đoán hình ảnh đặc biệt là CT và sự sẵn có của nội soi,các báo cáo về IOI ngày một tăng đã gây ra một cuộc tranh luận về cách điều trị tốt nhất của căn bệnh này.
Trên thế giới đã có nhiều báo cáo về các trường hợp IOI  tuy nhiên vẫn chưa có những báo cáo một cách hệ thống và thống nhất về chẩn đoán cũng như điều trị. Tại Việt Nam cũng chưa có nhiều bào cáo về bệnh lý này,nhân trường hợp bệnh nhân nhồi máu mạc nối lớn nguyên phát được phẫu thuật tại bệnh viện T, chúng tôi thông báo trường hợp này qua đó  thảo luận về chẩn đoán và quản lí điều trị bệnh nhân nhồi máu mạc nối lớn nguyên phát.
Case lâm sàng ( Xem thêm)

Sunday, March 8, 2020

Ung thư tế bào sáng của gan(Clear cell hepatocellular carcinoma)


1. Mở đầu
  • Ung thư biểu mô tế bào gan (HCC-Hepatocellular Carcinoma) là một trong các loại ung thư gan nguyên phát hay gặp nhất. Trong các khối u gan gồm nhiều loại khác nhau: lành tính, ác tính, nguyên phát, thứ phát, trong đó ung thư tế bào gan (UTTBG) chiếm 90% tổng số ung thư gan và là nguyên nhân tử vong đứng hàng thứ 3 trong tổng số nguyên nhân tử vong do ung thư, hàng năm có khoảng 1 triệu trường hợp tử vong do UTTBG 
  • Về mô bệnh học HCC bao gồm 6 nhóm là : Fibrolamellar HCC; Sarcomatous HCC; Scirrhous HCC; Clear-cell variant of HCC và HCC with lymphoid stroma. Trong đó Clear-cell variant of HCC là thể khá hiếm gặp.
  • Ung thư tế bào sáng của gan đã được mổ tả trong một số tài liệu đầu tiên có sự sai lệch về tên gọi như u thượng thận và u gan thượng thận (hypernephroid tumors and hepatic hypernephroma ) (Swenson 1917; Williams 1924; Ramsay 1929). Khối u gan thượng thận (Hepatic adrenal rest tumor) xuất hiện như một từ đồng nghĩa với ưng thư tế bào sáng gan (clear cell HCC) trong một số báo cáo nhưng những khối tân sinh này dường như có sự khác biệt về bản chất. Ung thư tế bào sáng của gan được phát hiện khi nhuộm HE và được báo cáo lần đầu bởi Bonne năm 1937. Dạng tổn thương này sau đó đã xuất hiện trong một số báo cáo(Berman 1951, 1958; Edmondson 1958) cho tới khi một loạt 13 ca bệnh đầu tiên được phân tích có hệ thống (bởi Buchanan và Huvos 1974), trong đó chủ yếu bao gồm ung thư biểu mô tế bào sáng của dạ dày, ruột, tụy, gan mật và thần kinh. 

2. Dịch tễ (Xem tiếp)

Monday, September 9, 2019

THUỐC BỔ NÃO

Slide bài giảng về thuốc các loại thuốc bổ não thường dùng trên lâm sàng 

Friday, November 2, 2018

Thursday, November 1, 2018

Các marker trong chẩn đoán và theo dõi nhiễm khuẩn

Trong các marker trên có hai marker được đặc biệt quan tâm vì giá trị lâm sàng của nó đó là CRP và PCT.